Khi kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, Viện kiểm sát
nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Kiểm sát việc
thông báo thụ lý vụ việc dân sự của Toà án.
2. Tham gia
phiên toà, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự ở các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của BLTTDS.
3. Tham gia hỏi đương sự
và những người tham gia tố tụng khác tại các phiên toà, phiên họp và phát biểu
ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc dân sự.
4. Kiểm sát việc tuân
theo pháp luật tại phiên toà, phiên họp của Hội đồng xét xử và những người tham
gia tố tụng.
5. Kiểm sát các
bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự của Toà án.
6. Yêu cầu đương
sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm
cjovieecj thực hiện thẩm quyền kháng nghị.
7. Yêu cầu Toà
án cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để xem xét, quyết định việc
kháng nghị.
8. Kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định giải quyết
vụ việc dân sự của Toà án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
9. Yêu cầu hoãn
thi hành án; quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật khi thực hiện kháng nghị theo thẩm quyền theo quy định tại Điều 286,
Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
10. Thực hiện
quyền yêu cầu, quyền kiến nghị đối với các vi phạm của Toà án trong quá trình
giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật.
11. Trong quá
trình thực hiện chức năng kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân các cấp phải tăng cường
công tác phát hiện vi phạm về pháp luật nội dung, luật tố tụng để thường xuyên
thực hiện kiến nghị với cơ quan xét xử qua từng vụ việc; định kỳ sáu tháng, một
năm phải có kiến nghị tổng hợp vi phạm đối với cơ quan xét xử ngang cấp.
Kiểm sát việc thông báo thụ lý vụ việc dân sự
của Tòa án
- Căn cứ Điều 174 BLTTDS thì trong thời hạn ba ngày làm
việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá
nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ
án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án.
- Căn cứ Điều 6 Quy chế KSDS thì Khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, Kiểm
sát viên, Kiểm tra viên phải vào sổ thụ lý theo dõi, kiểm tra văn bản thông báo
thụ lý theo những nội dung được quy định tại Điều 174 Bộ luật tố tụng dân sự; lập
phiếu kiểm sát theo dõi vi phạm để tổng hợp kiến nghị với Toà án các vi phạm về
thời hạn gửi thông báo, nội dung, hình thức thông báo; theo dõi quyết định chuyển
vụ án của Toà án.
Tham
gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm.
Tham gia
phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự ở cấp sơ thẩm:
- Tham gia phiên toà sơ thẩm:
Theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 21 BLTTDS
thì việc tham gia phiên tòa của VKSND như sau:
+ Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ
thẩm đối với các việc dân sự;
+ Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên tòa sơ
thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng
tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có
một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm
thần
+ Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, phiên
họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
+ Theo
khoản 2 Điều 195 BLTTDS thì trường hợp
Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm, Tòa án phải gửi quyết định đưa vụ án
ra xét xử cho VKS cùng cấp ngay sau khi ra quyết định và gửi hồ sơ cho VKS cùng
cấp; trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả
lại hồ sơ cho Tòa án;
- Tham gia phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
+
Căn cứ khoản 2 Điều 21 BLTTDS thì Viện kiểm sát phải tham gia tất cả các phiên
họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự của Toà án.
+
Căn cứ khoản 1 Điều 313 BLTTDS thì Toà án gửi hồ sơ việc dân sự cùng với quyết
định mở phiên họp cho Viện kiểm sát ngay sau khi Toà án ra quyết định mở phiên
họp. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải trả
lại hồ sơ cho Toà án để mở phiên họp.
Tham gia
phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự ở cấp phúc thẩm.
- Theo
quy định tại Điều 262 BLTTDS, sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án
cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp nghiên cứu. Thời hạn
nghiên cứu hồ sơ của VKS cùng cấp là 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án;
hết thời hạn đó, VKS phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
- Căn cứ quy định tại
khoản 2 Điều 264 và Điều 266 BLTTDS thì Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia
phiên toà phúc thẩm; nếu vắng mặt Kiểm sát viên thì phải hoãn phiên tòa .
- Theo quy
định tại khoản 2 Điều 280 BLTTDS thì Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp
tham gia phiên họp phúc thẩm quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng
nghị.
Tham gia
phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự ở cấp giám đốc thẩm, tái thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 292 và Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, thì Viện kiểm
sát tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những vụ án do Chánh án
Toà án và Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị
- Về việc phát biểu của Kiểm sát viên tại
phiên tòa:
+ Theo
quy định tại Điều 197 và Điều 234 BLTTDS thì tại phiên tòa sơ thẩm, để thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo
pháp luật, Kiểm sát viên có quyền phát biểu ý kiến về
việc giải quyết vụ việc dân sự, phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia
tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử
nghị án.
+ Theo
quy định tại Điều 273a BLTTDS thì tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi những người
tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu
ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết
vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm.
+ Theo
quy định tại khoản 3 Điều 295 và Điều 310 BLTTDS thì tại phiên tòa giám đốc
thẩm, tái thẩm, sau khi các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm
thảo luận và phát biểu ý kiến của mình
về việc giải quyết vụ án, đại diện VKS phát biểu ý kiến của VKS về việc giải
quyết vụ án .
Kiểm
sát các bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án.
- Kiểm sát viên kểm sát các bản án, quyết định của
Toà án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự bao gồm:
+ Quyết định nhập hoặc tách vụ án (khoản 3 Điều 38
BLTTDS);
+ Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp
khẩn cấp tạm thời (Khoản 2 Điều 123 BLTTDS);
+ Thông báo thụ lý vụ việc dân sự (Điều 174 BLTTDS
và Mục 1 Phần I Thông tư 03/2005);
+ Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương
sự (Điều 187 BLTTDS);
+ Quyết định tạm đình chỉ và quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự (Khoản 2 Điều 194 BLTTDS)
+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm (Điều 195
BLTTDS);
+ Quyết định hoãn phiên toà sơ thẩm (Điều 208
BLTTDS);
+ Bản án sơ thẩm (Điều 241 BLTTDS);
+ Thông báo việc kháng cáo (Điều 249 BLTTDS);
+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm (Khoản
3 Điều 258 BLTTDS);
+ Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm (Điều 266
BLTTDS);
+ Bản án, quyết định phúc thẩm (Điều 281 BLTTDS);
+ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của
Chánh án TANDTC, Chánh án TAND cấp tỉnh (khoản 2 Điều 290 BLTTDS);
+ Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 303
BLTTDS).
- Khi tiến hành kiểm sát, Viện kiểm sát có quyền
yêu cầu, kiến nghị hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật nếu phát hiện có
vi phạm trong quá trình giải quyết vụ việc.
Yêu cầu
đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo
đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị.
Căn cứ khoản 4 Điều 85 BLTTDS thì Viện kiểm
sát có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ
quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm cho việc thực hiện
thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Các hồ sơ, tài liệu, vật chứng mà đương
sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp cho Viện kiểm sát theo yêu cầu của Viện
kiểm sát trong trường hợp này phải được chuyển cho Toà án để đưa vào hồ sơ vụ
việc và bảo quản tại Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 95 BLTTDS.
Yêu
cầu Toà án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để tham gia phiên toà, phiên họp hoặc để
xem xét, quyết định việc kháng nghị.
Yêu cầu
chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát để tham gia phiên toà, phiên họp.
- Căn cứ Mục 2.1 phần I của Thông tư liên tịch số
03/2005 thì Toà án phải chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp
trong các trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên toà, phiên họp theo quy
định của BLTTDS, trừ các trường hợp sau đây:
+ Viện kiểm sát cùng cấp với Toà án cấp phúc thẩm
đã kháng nghị phúc thẩm;
+ Viện kiểm sát cùng cấp với Toà án có thẩm quyền
giám đốc thẩm, tái thẩm đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc theo thủ
tục tái thẩm.
- Việc chuyển hồ sơ vụ việc dân sự được thực hiện
như sau:
+ Trong trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên
toà sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm gửi hồ sơ vụ án dân sự cùng với quyết định đưa
vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát theo quy định định tại khoản 2 Điều 195
BLTTDS.
+ Trong trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên
toà phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm gửi hồ sơ vụ án dân sự cùng với quyết định
đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 2 Điều 262
BLTTDS.
+ Trong trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên
toà, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự, Toà án gửi hồ sơ vụ án dân
sự cùng với quyết định kháng nghị cho Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 2
Điều 290 và Điều 310 BLTTDS.
+ Trong trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên họp
giải quyết việc dân sự, Toà án gửi hồ sơ việc dân sự cùng với quyết định mở
phiên họp cho Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 1 Điều 313 BLTTDS.
+ Trong trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên họp
phúc thẩm đối với các quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm
gửi hồ sơ vụ án cùng với quyết định mở phiên họp cho Viện kiểm sát được hướng dẫn
tại điểm d tiểu mục 2.1 phần I Thông tư liên tịch số 03/2005.
Yêu cầu
chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát để xem xét kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm.
- Căn cứ Mục 2.2 phần I Thông tư liên tịch số
03/2005 thì Việc chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát để xem xét kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm như sau:
+ Sau khi nhận được bản án, quyết định của Toà án
chưa có hiệu lực pháp luật mà Viện kiểm sát cùng cấp (trong trường hợp Viện kiểm
sát không tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự) hoặc Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp xét thấy cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân sự để xem xét việc
kháng nghị phúc thẩm, thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Toà án chuyển hồ sơ
vụ việc cho Viện kiểm sát.
+ Ngay sau khi nhận được yêu cầu của Viện kiểm
sát, Toà án chuyển hồ sơ vụ án việc dân sự cho Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu.
Chậm nhất là ngay sau khi hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm qui định tại Điều
252 và khoản 2 Điều 317 BLTTDS, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ việc dân sự cho
Toà án đã xét xử hoặc giải quyết sơ thẩm cùng với quyết định kháng nghị (nếu Viện
kiểm sát có kháng nghị).
c.
Yêu cầu chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát để xem xét kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc theo thủ tục tái thẩm.
- Căn cứ Mục 2.3 Phần I Thông tư liên tịch số
03/2005 thì việc chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát để xem xét kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc theo thủ tục tái thẩm như sau:
+ Khi Viện kiểm sát xét
thấy cần thiết phải nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân sự để xem xét, báo cáo Viện
trưởng Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc theo thủ tục
tái thẩm, thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Toà án đã ra bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật chuyển hồ sơ vụ việc dân sự đó cho Viện kiểm sát.
+ Trong thời hạn bảy
ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu chuyển hồ sơ, Toà án chuyển hồ sơ vụ
việc cho Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu. Trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày
nhận được hồ sơ vụ việc dân sự, nếu Viện kiểm sát không kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm hoặc theo thủ tục tái thẩm, thì Viện kiểm sát phải chuyển trả lại
hồ sơ vụ việc cho Toà án đã ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Nếu Viện
kiểm sát có kháng nghị giám đốc thẩm hoặc kháng nghị tái thẩm, thì Viện kiểm
sát chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cùng với quyết định kháng nghị cho Toà án có thẩm
quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo qui định tại Điều 290 và Điều 310
BLTTDS.
+ Trong trường hợp Viện
kiểm sát và Toà án cùng có văn bản yêu cầu Toà án đã ra bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để xem xét việc kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm hoặc theo thủ tục tái thẩm, thì Toà án chuyển hồ sơ vụ việc
dân sự cho cơ quan có văn bản yêu cầu trước và thông báo bằng văn bản cho cơ
quan kia biết về việc đã chuyển hồ sơ đó.
+ Trong thời hạn ba
tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc dân sự, nếu cơ quan đã được nhận hồ
sơ vụ việc dân sự không có kháng nghị, thì thông báo cho cơ quan đã có yêu cầu
mà chưa được nhận hồ sơ biết. Nếu cơ quan đó vẫn có đề nghị chuyển hồ sơ vụ việc
dân sự để nghiên cứu, thì cơ quan đã được nhận hồ sơ mà không có kháng nghị phải
chuyển hồ sơ cho cơ quan đã có yêu cầu chuyển hồ sơ mà chưa được nhận hồ sơ.
+ Trong trường hợp cơ
quan chưa được nhận hồ sơ không có đề nghị chuyển hồ sơ nữa, thì cơ quan đã nhận
hồ sơ chuyển trả hồ sơ vụ việc dân sự cho Toà án đã gửi hồ sơ cho mình.
Kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định giải
quyết vụ việc dân sự của Toà án.
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm:
- Căn cứ Điều 22 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân năm 2002; điểm đ khoản 1 Điều 44, Điều 250, Điều 316 BLTTDS thì thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát
như sau:
+ Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cùng cấp và Viện trưởngViện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền
kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án của Tòa án cấp sơ thẩm.
+ Viện trưởng hoặc Phó
Viện trưởng Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm được Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ủy quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
đối với bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
giải quyết theo thủ tục sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ Điều 256 BLTTDS thì việc thay đổi, bổ
sung, rút kháng nghị như sau:
+ Viện kiểm sát ra quyết
định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc
tại phiên tòa phúc thẩm. Nếu thời hạn kháng nghị vẫn còn thì việc thay đổi phạm
vi kháng nghị được chấp nhận, nếu thời hạn kháng nghị đã hết thì việc thay đổi
phạm vi kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban dầu.
+ Viện kiểm sát ra quyết
định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định việc rút kháng
nghị trước khi bắt đầu phiên tòa. Tại phiên tòa phúc thẩm, việc rút kháng nghị
thuộc thẩm quyền của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Kháng nghị
bản án, quyết định của tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm:
- Căn cứ Điều 285, Điều 307 và Điều 289 BLTTDS, thẩm quyền kháng nghị, thay
đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát như sau:
+ Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án các cấp, trừ quyết định giám
đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
+ Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện.
+
Người đã kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền thay đổi, bổ sung quyết định
kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu (nếu chưa hết thời
hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm).
+
Việc rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước khi bắt
đầu phiên tòa do người đã ra quyết định kháng nghị quyết định, còn tại phiên
tòa, nếu thấy cần thiết phải rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị thì Kiểm sát
viên đề nghị hoãn phiên tòa và báo cáo Lãnh đạo Viện xem xét, quyết định.
Yêu
cầu hoãn thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án và quyết
định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà
án khi thực hiện kháng nghị theo thẩm quyền
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh có quyền yêu cầu hoãn thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Toà án và quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Toà án theo quy định tại Điều 286, Điều 307 và Điều 310
BLTTDS,
Thực hiện quyền yêu cầu, quyền kiến nghị đối với
các vi phạm của Toà án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.
- Căn cứ điểm 10 Điều 4 Quy chế KSDS thì khi kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, Viện kiểm
sát nhân dân thực hiện quyền yêu cầu,
quyền kiến nghị đối với các vi phạm của Toà án trong quá trình giải quyết vụ việc
dân sự theo quy định của pháp luật.
- Khi thực hiện quyền này, Kiểm sát viên cần chú ý
đưa ra các yêu cầu phải sát với thực tiễn, cụ thể, rõ ràng, theo đúng trình tự,
thủ tục pháp luật quy định và cần tập hợp, phân loại các vi phạm chung để kiến
nghị.