Tiếng việt   |   English Chào mừng Kỷ niệm 44 năm Ngày thành lập Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội 25/4/1970 - 25/4/2014
 
Tel: 04. 3358.1280
Fax: 04. 3358.0476
Email:
truongkiemsat@tks.edu.vn
Yahoo:
Skype:
Bản đồ đến trường
Thống kê
Đang xem:
Lượt truy cập:
Bạn là IP:
Bạn đang ở:
Trình duyệt:
1640
6779855
23.23.67.57
Reserved
Firefox
Địa vị pháp lý và thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Cập nhật lúc: 06/07/2012 14h 38' 12"

Lê Hồng Thanh – Phó Trưởng phòng 1, Cục Điều tra VKSNDTC

1.        Địa vị pháp của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng 6 công tác, trong đó công tác điều tra được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2002: “Điểu tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp”.

Với chủ trương xây dựng nền công tố mạnh, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra; Viện kiểm sát nhân dân ngày càng có vai trò quan trọng, quyết định trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội bằng nhiều biện pháp như: Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự và trực tiếp điều tra một số loại tội phạm, trong đó, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) là một trong những bảo đảm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát, chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm, góp phần bảo vệ trật tự pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Có thể nói, hoạt động điều tra là một quyền năng quan trọng và được ví như “quyền công tố nối dài” của Viện kiểm sát; không thể bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nếu không có hoạt động điều tra trực tiếp. Trước yêu cầu của cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế và đấu tranh phòng, chống các tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp nói riêng thì Cơ quan điều tra VKSNDTC ngày càng phải được củng cố, tăng cường để bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát và đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

2. Thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Thẩm quyền chung của các Cơ quan điều tra (thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Vỉện kiểm sát nhân dân tối cao) được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS năm 2003) nhự sau:

“Điều 110. Thẩm quyền điều tra

1.          Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2.          Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự.

3. Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp

Như vậy, Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân điều tra tất cả các loại tội phạm, trừ những tội thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân. Thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân theo thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự; thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSNDTC lại không được quy định cụ thể: “Một số loại tội” gồm những tội gì? “Các cơ quan tư pháp ” gồm những cơ quan nào? Việc quy định không cụ thể về thẩm quyền điều tra nên việc xác định trách nhiệm còn chưa rõ ràng. Trong thực tế, có những tội phạm xảy ra nhưng không có cơ quan nào tiến hành điều tra hoặc mất nhiều thời gian để xác định thẩm quyền, dẫn đến bỏ lọt hoặc việc điều tra tội phạm không kịp thời. Mặt khác, các tội phạm có nguồn gốc phát sinh từ việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp hoặc liên quan đến việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp trong quá trình tiến hành tố tụng, hoặc hành vi phạm tội có liên quan đến vụ án thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra VKSNDTC đang khởi tố, điều tra nhưng cơ quan khác tiến hành điều tra nên gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Những tồn tại này cần được hướng dln để có sự thống nhất, khắc phục sự chồng chéo về thẩm quyền hoặc bỏ lọt tội phạm. Vấn đề này Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 (BLTTHS năm 1988) quy định cụ thể:

3.        Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra trong những trường hợp sau đây, khi Viện trưởng xét thấy cần thiết:

a)         Khi phát hiện việc điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng;

b)          Khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật, phát hiện những vụ phạm tội rõ ràng, không cần thiết phải chuyển cho Cơ quan điều tra khác;

c)        Khi phát hiện tội phạm trong hoạt động tư pháp.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể giao cho Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát điều tra trong những trường hợp khác.

Để khắc phục tình trạng nhận thức không thống nhất về thẩm quyền điều tra trong BLTTHS năm 2003 và tăng cường tổ chức, hoạt động của Cơ quan điều tra VKSNDTC; ngày 19/8/2010, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Cục Điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao kèm theo Quyết định số 1169/2010/VKSTC-C6 (Quy chế số 1169) đã quy định cụ thể như sau:

“Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền điều tra các tội phạm sau đây:

1.         Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXII của Bộ luật Hình sự mà người phạm tội là cán bộ của các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm qụyền xét xử của Tỏa án nhân dân;

2.        Các tội phạm có nguồn gốc phát sinh từ việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp hoặc liên quan đến việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp trong quá trình tiến hành tố tụng (hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động...) ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án;

3.        Hành vi phạm tội hoặc người thực hiện hành vỉ phạm tội có liên quan đến vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang khởi tố, điều tra.”

Theo đó, Cơ quan điều tra VKSNDTC có thẩm quyền điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp được quy định tại Chuơng XXII Bộ luật Hình sự năm 1999 và những loại tội phạm sau:

Các tội phạm có nguồn gốc phát sinh hoặc có liên quan đến việc thi hành nhiệm vụ của cán bộ các cơ quan tư pháp gồm: Cán bộ, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Chấp hành viên và những người tiến hành tố tụng khác thuộc các ngành Công an nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân, Thi hành án các cấp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hoặc tiến hành tố tụng đối với các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động... ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

Hành vi phạm tội hoặc người thực hiện hành vi phạm tội có liên quan đến vụ án do Cơ quan điều tra VKSNDTC đang khởi tố, điều tra là trường hợp tội phạm không thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSNDTC, nhưng có liên quan đến vụ án mà Cơ quan điều tra VKSNDTC đang khởi tố, điều tra mà cần phải nhập vụ án để bảo đảm việc điều tra, giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện theo quy định của pháp luật.

Quy chế số 1169 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã xác định tương đối cụ thể về thẩm quyền của Cơ quan điều tra VKSNDTC. Tuy nhiên, đây chỉ là văn bản dưới luật có tính chất hướng dẫn thực hiện nên hiệu lực không cao.

Về cơ sở của việc phân chia thẩm quyền: Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc lĩnh vực quốc phòng; Cơ quan điều tra VKSNDTC điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp; Cơ quan điều tra của Bộ Công an điều tra tất cả các loại tội phạm còn lại. Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nên Viện kiểm sát tham gia vào toàn bộ quá trình tố tụng hình sự, từ giai đoạn phát hiện tội phạm, khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, điều tra vụ án hình sự, đến khi kết thúc quá trình tố tụng (bản án có hiệu lực pháp luật) và chấm dứt khi thi hành xong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (công tác kiểm sát thi hành án). Bên cạnh đó, Viện kiểm sát các cấp có phạm vi kiểm sát rất rộng, bao gồm công tác kiểm sát việc giải quyết các loại án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế và những việc khác theo quy định của pháp luật. Thông qua các công tác này, Viện kiểm sát phát hiện những thiếu sót, vi phạm của các cơ quan tư pháp, cán bộ tư pháp để yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm khắc phục; nếu phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thì chuyển cho Cơ quan điều tra VKSNDTC để khởi tố, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật- Chính vì vậy, Viện kiểm sát có điều kiện thuận lợi để phát hiện các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp.

3.       Một số đề xuất, kiến nghị về địa vị pháp lý của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trước yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hinh mới và xu huớng hội nhập quốc tế, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cơ quan điều tra nói riêng phải không ngừng đổi mới, nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ; nhằm đấu tranh có hiệu quả đối với tất cả các loại tội phạm, không làm oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Bên cạnh đó, cần phải ban hành Luật tổ chức điều tra hình sự thay thế Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, nhằm tạo khung pháp lý và hoàn thiện các thiết chế về tổ chức của các cơ quan điều tra theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại.

Tiếp tục khẳng định và tăng cường địa vị pháp lý của Cơ quan điều tra VKSNDTC để đảm bảo thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân và bảo vệ kỷ cương luật pháp, bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền con người. Cơ quan điều tra VKSNDTC cần được tổ chức tập trung và có các đơn vị đại điện ở một số tỉnh, thành phố để đấu tranh kịp thời với các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp xảy ra.

Về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trên cơ sở luật hoá Quy chế số 1169 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, về khái niệm “một số tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp” cần được giải thích rõ để có nhận thức thống nhất; các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXII Bộ luật Hình sự cần được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo hướng các tội phạm do cán bộ cơ quan tư pháp thực hiện hành vi phạm tội trong quá trình thực thi hoạt động tư pháp. Ngoài ra, cần quy định Cơ quan điều tra VKSNDTC có thẩm quyền điều tra đối với những vụ án khác khi Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xét thấy cần thiết để đảm bảo hỗ trợ và thực hiện nghiêm chỉnh quyền công tố của Viện kiểm sát, đó là những trường hợp mà trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, Viện kiểm sát đã yêu cầu khởi tố nhưng cơ quan điều tra khác không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm chỉnh dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội, hoặc những trường hợp khác cần thiết phải giao cho Cơ quan điều tra VKSNDTC trực tiếp điều tra để đảm bảo tính khách quan. Đây cũng là quy định của pháp luật nước ta trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và ở các thời kỳ trước; đồng thời, phù hợp với cách làm của nhiều nước trên thế giới hiện nay. Ngoài ra, cần nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để đề xuất mở rộng thẩm quyền cho Cơ quan điều tra VKSNDTC trực tiếp điều tra các tội phạm về tham nhũng.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 11/2012

   
Share |
  THAM GIA Ý KIẾN VỀ BÀI VIẾT TRÊN
  Họ và Tên:*
  Email:*
  Tiêu đề :*
  Ý kiến của bạn 
  Mã xác nhận  
     
Các tin khác
 

Đăng nhập trang Thông tin nội bộ
       
     Tên truy cập  
     Mật khẩu  
       
       
Hỏi đáp pháp luật
Tin học ứng dụng
ý kiến góp ý